Đóng

8 Tháng Mười Hai, 2015

Lịch sử phát triển Khoa học sinh trắc vân tay

lich-su-phat-trien-nganh-phan-tich-dau-van-tay-dermatoglyphics-825x340
Như chúng ta đã biết, dấu vân tay và các đặc điểm trên lòng bàn tay của mỗi cá nhân là duy nhất, xác xuất trùng hợp là gần như không thể, nó bắt đầu hình thành từ rất sớm, khoảng từ tháng thứ 4 của phôi thai và các hệ thống này dần dần phát triển cho đến khi con người trưởng thành mà không hề thay đổi các đặc điểm nhận dạng. Ngày nay, những sự hiểu biết về lĩnh vực này đã khá phát triển và được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người.

Thuật ngữ Dermatoglyphics là tên gọi của một ngành khoa học nghiên cứu hình thái của vân tay và bàn tay, được đặt nền tảng bởi nhà khoa học nổi tiếng là Harold Cummins vào năm 1926. Ông cũng được xem như là cha để của ngành sinh trắc vân tay Dermatoglyphics. Dựa trên nền tảng xác thực về nhân chủng học, phôi học, di truyền học, y học và thống kê nó cho chúng ta biết thông tin về mối liên hệ chặt chẽ giữa vân tay và hệ thống thần kinh. Nói một cách đơn giản, Dermatoglyphics có thể tiết lộ cho chúng ta biết về những đặc tính năng lực vượt trội, thiên hướng tài năng bẩm sinh của mỗi cá nhân. Khi có thêm thông tin về sự hiểu biết về con người, chúng ta sẽ có định hướng tốt hơn nhằm hỗ trợ đào tạo, phát triển, sử dụng hiệu quả, giúp cho chúng ta tạo dựng cuộc sống cá nhân thành công và hạnh phúc. Ngoài ra còn là nền tảng đến sự thấu hiểu nhằm xây dựng nên những mối quan hệ tốt đẹp hơn trong xã hội.

Thực tế học thuật về vân tay có một lịch sử lâu dài, vì đã từ lâu tại nhiều nước, trong dân gian đã tồn tại những phương pháp xem thuộc tính chỉ tay để đoán tính cách, đoán mệnh thể hiện dưới hình thái văn hóa hay tính ngưỡng cộng đồng. Thật ngạc nhiên, ngày nay dưới ánh sáng khoa học người ta đã tìm thấy được giá trị xác thực to lớn, các nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin đáng kinh ngạc về con người.

Sự phát triển hình thành qua hàng triệu năm tiến hóa, con người đã sở hữu một hệ thống hoàn hảo chứa đựng thông tin mật mã di truyền, chúng có đặc tính sự tương đồng khi tồn tại và cùng phát triển trong một cơ thể thống nhất, mối liên hệ chéo giữ các cơ quan với nhau là điều tất yếu xảy ra. Kể từ năm 1823, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng dấu vân tay và trí thông minh có liên quan đến nhau. Điều này đã được khẳng định và công bố trong nhiều công trình nghiên cứu. Từ đó trở đi, các nhà khoa học kết hợp di truyền học, khoa học thần kinh và phôi thai học với thuyết đa thông minh để khám phá tính cách, tài năng tiềm ẩn, năng lực bẩm sinh và thậm chí về bệnh học di truyền. Tương lai, ngành này có thể mở ra nhiều triển vọng nghiên cứu khác chưa từng được biết đến của con người.

Dưới đây, chúng ta kể đến các nhà khoa học nổi tiếng, các tổ chức hàng đầu đã góp công sức vào phát triển ngành khoa học này và các công trình nghiên cứu tiêu biểu của họ :

  • Năm 1974, Beverly C.Jaegers, cho thấy dấu vân tay có liên quan đến đặc trưng tâm lý của mỗi người
  • Năm 1970, Liên Xô thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về tiềm năng, mối liên quan giữa tài năng, trí thông minh với sinh trắc vân tay và hệ gen của con người.
  • Năm 1968, Sarah Holt Công bốcông trình nghiên cứu về di truyền của vân tay vào năm
  • Năm 1967, Beryl Hutchinson, nghiên cứu về sinh lý học, phát hiện ra rằng dermatologlyphics có thể chỉ ra tiềm năng bẩm sinh của một người.
  • Năm 1950, Tiến sĩ Penfield, giáo sư bác sĩ phẫu thuật não người Canada, đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa dấu vân tay và não.
  • Năm 1926, Tiến sĩ Harold Cummins được xem là “Cha đẻ của ngành Dermatoglyphics”, đã đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Hoa Kỳ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành ngành nghiên cứu riêng biệt. Nghiên cứu của ông được biết đến như là phương pháp Cummins và được chấp nhận rộng rãi như một công cụ quan trọng trong việc chỉ ra mối quan hệ di truyền và tiến hóa, giữa vân tay, phôi học và di truyền học. Phương pháp Cummins đã được sử dụng rộng rãi trong phân tích các loại bệnh hở hàm ếch, chậm phát triển tâm thần, tâm thần phân liệt và thậm chí cả bệnh tim mạch. Ông đã xây dựng lý thuyết Dermatoglyphics và đưa ra lý thuyết PI (PatternIntensity), chính thức trở thành kiến thức nền tảng chuyên môn.
  • Năm 1920, Elizabeth Wilson, sử dụng số liệu thống kê để kiểm tra sự khác biệt giữa những người có tâm thần phân liệt, trí thông minh thấp và những người bình thường.
  • Năm 1902, Harris Hawthorne Wilder đã thiết lập hệ thống cơ bản của môn hình thái học, di truyền học và nghiên cứu trên chủng loại lòng bàn tay, vân tay.
  • Năm 1958, Noel Jaquin (1893-1974) công bố nghiên cứu thêm vềmẫu dấu vân tay khác Ông được xem là nhà nghiên cứu tiên phong sửdụng sinh trắc đểchẩn đoán, phân tích tâm lý học và bệnh lý học. Nghiên cứu của Ông cho thấy mỗi dấu vân tay tương ứng với loại khác nhau của nhân cách. Trong tháng tư, năm 1945, Noel Jaquin hợp tác với Hilda Jaffe, Beryl Hutchinson và Margaret Hone đểthiết lập hiệp hội sinh lý học, tập trung vào nghiên cứu bàn tay và ý nghĩa yhọc.
  • Charlotte Wolff (1897-1986) sử dụng số liệu thống kê để tính toán ý nghĩa cho từng khu vực của lòng bàn tay và trí tuệ tiềm thức, đề xuất mối quan hệ giữa dấu vân tay và quá trình tư duy. Bà cũng tin rằng ngón tay trỏ và ngón tay cái có thể đại diện cho ý thức và ý chí.
  • Năm 1892, Francis Galton (1822-1911) là anh em họ của CharlesDarwin và là nhà khoa học có ảnh hưởng trong nhiều ngành. Ông đã nghiên cứu về tầm quan trọng và tính ổn định của vân tay để nhận dạng cá nhân và xác định các biến thể di truyền của dấu vân tay giữa các chủng tộc khác nhau. Ông là người đầu tiên nói rằng vân tay là một bản vẽ thiết kế di truyền. Việc phân loại vân tay của ông là một bước tiến quan trọng, đơn giản hóa 9 biến thể từ Purkinje thành 3 loại cơ bản: Arch (không có điểm tam giác delta), Loop (một điểm delta),và đại bàng (2 điểm delta). Hai tác phẩm của ông được coi là kinh điển trong lĩnh vực dermatoglyphics và làm dấy lên sựquan tâm tập trung của các nhà khoa học về nhân chủng học, động vật học, di truyền học và tội phạm học.
  • Năm 1880, Henry Faulds và W.J Herschel, trong một công trình công bố tên là “Nature” đã đề xuất sử dụng vân tay như phương thức độc đáo để xác định bản chất con người.
  • Julius Spier (1877-1942)Ông đã tiếp cận nghiên cứu dựa trên nền tảng tâm lý học. Ông đặt nhiều ý nghĩa vềảnh hưởng liên tục của gia đình và cuộc sống ban đầu của chúng ta đến sựphát triển cá nhân. Theo ông, lý do của việc phân tích tay là một cách đểgiải phóng con người khỏi những ảnh hưởng nhiễu từ xã hội và môi trường làm mờ đi năng lực bẩm sinh đích thực của cánhân.
  • Edward Henry (1850-1931) từ năm 1896 đến 1897, ông đã phát triển hệ thống phân loại Henry, hệ thống này đã được chấp nhận trên toàn thế giới trong vài năm.
  • Năm 1880 Tiến sĩ Henry nghiên cứu dấu vân tay đã được công bố trên tạp chí Nature. Ông đề xuất lý thuyết về RC và xem vân tay như một thước đo trí thông minh bẩm sinh.
  • Tiến sĩ Nehemiah (1641-1712) Nhà y học, đã công bố công trình nghiên cứu làm bản vẽ chính xác về dấu vân tay và các khu vực lòng bàn tay.
  • Marcello Malpighi (1628-1694) Nhà giải phẫu học người Ý đã giải thích cấu trúc vi mô về da trên đầu ngón tay trong công trình nghiên cứu về mô da người, đặt nền tảng cho ngành sinh học nghiên cứu về phôi thai, cơ thể người và bệnh lý với quá trình làm việc và cống hiến 40 năm.
  • Năm 1981, giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu vềchức năng của não trái, não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây, những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
  • Năm 1986, giải Nobel về sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita Levi-Montalcini và tiến sĩ Stanley Cohen cho phát hiện mối tương quan giữa NGF (yếu tố tăng trưởng tế bào thần kinh não bộ), EGF (Yếu tố tăng trưởng tế bào biểu bì hình thành vântay).

VINH DANH VÀ TƯỞNG NHỚ CÁC NHÀ KHOA HỌC VỀ DERMATOGLYPHICS

cac-nha-nghien-cuu-phan-tich-dau-van-tay-1

SINH TRẮC VÂN TAY Related